Việc quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học/dioxin trong chiến tranh ở Việt Nam đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường sinh thái và sức khỏe con người. Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh chất độc hóa học/dioxin gây nên nhiều dị dạng bẩm sinh, các bất thường về thai sản, gây ung thư và nhiều bệnh tật nguy hiểm khác cho người bị phơi nhiễm. Chiến tranh đã kết thúc hơn 37 năm, nhưng việc khắc phục những hậu quả chất độc hóa học/dioxin lên sức khỏe con người vẫn đang được các cấp, các ngành chung tay thực hiện.


Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, các nhà khoa học và y tế nước ta đã nghiên cứu về ảnh hưởng của chất độc hóa học/dioxin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam lên sức khỏe con người. Ðồng thời hợp tác với nhiều nước, nhiều đối tác quốc tế, kể cả các nhà khoa học Mỹ, để tiến hành nghiên cứu, trao đổi, hội thảo về ảnh hưởng của chất độc hóa học/dioxin sử dụng trong chiến tranh Việt Nam đối với sức khỏe con người. Bộ Y tế cũng phối hợp các bộ, ngành liên quan xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành nhiều văn bản quy định các chế độ, chính sách ưu đãi về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho người có công với cách mạng nói chung, người bị nhiễm chất độc hóa học/dioxin nói riêng. Xây dựng danh mục bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm với chất độc hóa học/dioxin. Ngành y tế ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm với chất độc hóa học/dioxin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam”. Xây dựng phòng chẩn đoán trước sinh cho các đối tượng có nguy cơ cao tại Trường đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Từ Dũ TP Hồ Chí Minh. 

Ðáng chú ý, Bộ Y tế phê duyệt và giao Trường đại học Y tế công cộng triển khai Dự án “Tổ chức phục hồi chức năng tại cộng đồng cho nạn nhân chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam”. Ðây là dự án góp phần trực tiếp giải quyết hậu quả chất độc hóa học/dioxin lên sức khỏe con người. Dự án được triển khai tại ba tỉnh: Thái Bình, Quảng Ngãi và Ðồng Nai cho những người có công tham gia kháng chiến và người thân trong gia đình họ bị nhiễm chất độc hóa học/dioxin. Thời gian thực hiện từ năm 2008 đến 2013. Mục tiêu của Dự án là nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, giúp nạn nhân chất độc hóa  học hòa nhập cộng đồng thông qua các biện pháp can thiệp phẫu thuật, phục hồi chức năng, cung cấp dụng cụ trợ giúp, chuyển giao kiến thức về phục hồi chức năng (PHCN), đề xuất chỉnh sửa và bổ sung văn bản pháp quy về PHCN cho nạn nhân và gia đình nạn nhân và xây dựng mô hình phục hồi chức năng tại cộng đồng cho nạn nhân chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh.

Sau bốn năm triển khai, Dự án cung cấp dịch vụ và chuyển giao kiến thức về phục hồi chức năng cho ba tỉnh tham gia; đã tiến hành điều tra cơ bản và phát hiện nhu cầu về PHCN cho 14.886 nạn nhân và người khuyết tật (đạt 170% kế hoạch đề ra); xây dựng và đào tạo mạng lưới cộng tác viên PHCN tại cộng đồng; tổ chức khám cho 6.670 nạn nhân và người khuyết tật; 7.600 nạn nhân được PHCN tại nhà; 343 nạn nhân đã được phẫu thuật hoặc PHCN tại bệnh viện; 820 nạn nhân được cấp phát dụng cụ trợ giúp và 1.229 dụng cụ trợ giúp tự tạo cho người khuyết tật.

Bên cạnh đó tăng cường năng lực chuyên môn và quản lý dịch vụ PHCN tại các cơ sở đào tạo về PHCN, với 1.740 lượt cộng tác viên và các cán bộ y tế địa phương được tập huấn, 223 cán bộ y tế của 60 tỉnh và ở 14 trường đại học trên toàn quốc được đào tạo chuyên ngành về PHCN cho nạn nhân chất độc hóa học/đi-ô-xin. Dự án đã xây dựng phần mềm quản lý thông tin người khuyết tật. Hỗ trợ công tác xây dựng tài liệu hướng dẫn về tổ chức PHCN cho nạn nhân và phát hành 29.800 cuốn tài liệu hướng dẫn PHCN. Ðồng thời đẩy mạnh truyền thông và trao đổi thông tin liên quan đến PHCN cho nạn nhân và người khuyết tật… Hoạt động chăm sóc và PHCN cho nạn nhân và người khuyết tật cũng đã nhận được sự quan tâm phối hợp liên ngành, cả giáo dục, y tế và chính quyền địa phương. Theo đánh giá, dự án đã bảo đảm đúng tiến độ đề ra và bước đầu có một số thành công, tạo ra được các tiền đề để hiệu quả của dự án có tính bền vững.

Những việc làm trên của ngành y tế đã góp phần khắc phục hậu quả của chất độc hóa học/dioxin lên sức khỏe con người, giúp các nạn nhân được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, hòa nhập và tái hòa nhập cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, giải quyết ảnh hưởng của chất độc hóa học/dioxin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam lên sức khỏe con người là vấn đề lớn, cần có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và có sự phối hợp của nhiều bộ, ngành và sự hợp tác quốc tế. 

Trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ tiếp tục phối hợp các bộ, ngành, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho các nạn nhân. Triển khai có hiệu quả Quyết định số 651/QÐ-TTg, ngày 1-6-2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia khắc phục cơ bản hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”, Bộ Y tế sẽ tập trung thực hiện: Tổng kết đánh giá lại các mô hình, dự án đề xuất mở rộng triển khai tại cộng đồng. Tiếp tục lồng ghép các hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe và PHCN cho người khuyết tật nói chung và nạn nhân chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam nói riêng. Tăng cường công tác đào tạo cán bộ chuyên ngành PHCN ở các cấp trình độ như kỹ thuật viên, điều dưỡng, bác sĩ chuyên khoa định hướng, bác sĩ chuyên khoa cấp I, cấp II, thạc sĩ, tiến sĩ.

Củng cố và kiện toàn mạng lưới các cơ sở PHCN phù hợp với quy hoạch phát triển của ngành và quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đến năm 2020. Xây dựng và triển khai Kế hoạch quốc gia về PHCN (phát triển chuyên ngành PHCN) giai đoạn 2013-2015 và đến năm 2020. Ðồng thời tổ chức điều tra dịch tễ học về người khuyết tật trên toàn quốc. Ðẩy mạnh phòng ngừa khuyết tật, tăng cường hoạt động phát hiện sớm, can thiệp sớm khuyết tật tại cộng đồng; Xây dựng và triển khai chương trình quản lý thông tin người khuyết tật tại các địa phương thông qua phần mềm tin học. Biên tập và hoàn thiện tài liệu hướng dẫn phân hạng khuyết tật và nâng cao năng lực của hệ thống giám định trong phân hạng khuyết tật. Xây dựng các quy định về tổ chức, hướng dẫn triển khai thực hiện PHCN dựa vào cộng đồng.

 

PGS, TS 

NGUYỄN THỊ KIM TIẾN

Ủy viên T.Ư Ðảng, Bộ trưởng  Y tế

(Báo Nhân dân 2/12)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *